Ảnh Hưởng Của Ung Thư Tới Cơ Thể – Phần 3: Hệ Miễn Dịch Và Bệnh Ung Thư

Xem phần 2: Hệ bạch huyết và bệnh ung thư

Bài viết này nói về hệ miễn dịch. Bạn sẽ biết về những tác động mà ung thư hoặc các phương pháp điều trị có thể ảnh hưởng tới hệ miễn dịch. Và làm thế nào một số phương pháp điều trị có thể tăng cường hệ thống miễn dịch để giúp chống ung thư.

Chức năng của hệ miễn dịch

Hệ miễn dịch bảo vệ cơ thể chống lại bệnh tật và nhiễm trùng do vi khuẩn, virus, nấm hoặc ký sinh trùng gây ra. Nó là một tập hợp các phản ứng mà cơ thể tạo ra cho các tế bào bị nhiễm trùng hoặc tổn thương. Vì vậy, đôi khi được gọi là phản ứng miễn dịch.

Hệ miễn dịch rất quan trọng đối với bệnh nhân ung thư theo nhiều cách vì:

  • Ung thư có thể làm suy yếu hệ miễn dịch
  • Điều trị ung thư có thể làm suy yếu hệ miễn dịch
  • Hệ miễn dịch có thể giúp chống ung thư

Ung thư và việc điều trị ung thư làm suy yếu hệ miễn dịch

Ung thư có thể làm suy yếu hệ miễn dịch bằng cách lan truyền vào tủy xương. Tủy xương tạo ra các tế bào máu giúp chống nhiễm trùng. Hiện tượng này xảy ra thường xuyên nhất trong bệnh bạch cầu hoặc ung thư hạch, tuy nhiên nó cũng có thể xảy ra với các bệnh ung thư khác. Ung thư có thể ngăn tủy xương tạo ra các tế bào kháng thể.

Một số phương pháp điều trị ung thư có thể tạm thời làm suy yếu hệ miễn dịch. Điều này là do số lượng tế bào bạch cầu được tạo ra trong tủy xương giảm. Các phương pháp điều trị ung thư có nhiều khả năng làm suy yếu hệ miễn dịch bao gồm:

  • hóa trị
  • thuốc ung thư được nhắm mục tiêu
  • xạ trị
  • steroid liều cao

Để lên kế hoạch điều trị ung thư chính xác, nhất là trong giai đoạn muộn, Asia Genomics hiện là trung tâm hàng đầu thực hiện xét nghiệm sinh thiết lỏng Guardant360®

Xét nghiệm này  sử dụng công nghệ giải trình tự điện tử độc quyền xác định tín hiệu của từng biến dị trong hệ gen của bệnh nhân từ những dữ liệu nhiễu loạn có được từ kỹ thuật giải trình tự gen thế hệ mới tiêu chuẩn (standard next-generation sequencing NGS), xác định những biến di đột biến điểm, nhân đoạn, hợp đoạn hay mất/thêm đoạn, những đột biến sinh dưỡng. Phương pháp này giúp Guardant360® có độ nhạy đơn phân tử, độ đặc hiệu đến 99.999%, cao nhất trong tất cả phương pháp giải trình tự gen.

Hệ miễn dịch có thể giúp chống lại ung thư

Một số tế bào của hệ thống miễn dịch có thể nhận ra các tế bào ung thư là bất thường và tiêu diệt chúng. Không may là điều này không đủ để loại bỏ hoàn toàn căn bệnh ung thư. Tuy nhiên một số phương pháp điều trị mới đang phát triển với mục đích sử dụng hệ miễn dịch để chống lại ung thư.

Có 2 phần chính của hệ miễn dịch:

  • sự bảo vệ chúng ta có từ khi sinh ra (miễn dịch tự nhiên)
  • sự bảo vệ chúng ta phát triển sau khi có mắc một số bệnh nhất định (miễn dịch nhân tạo)

Miễn dịch tự nhiên

Đây được gọi là miễn dịch bẩm sinh. Cơ chế này luôn sẵn sàng để bảo vệ cơ thể khỏi bị nhiễm trùng. Miễn dịch bẩm sinh phản ứng ngay lập tức (hoặc rất nhanh). Cơ chế này đến từ:

  • rào cản hình thành bởi da bao xung quanh cơ thể
  • các lớp lót bên trong của ruột và phổi, tạo ra chất nhầy và bắt các vi khuẩn xâm nhập
  • lông di chuyển chất nhầy và vi khuẩn ra khỏi phổi
  • axit dạ dày giúp giết chết vi khuẩn
  • vi khuẩn hữu ích phát triển trong ruột, ngăn chặn các vi khuẩn có hại khác
  • nước tiểu đưa vi khuẩn ra khỏi bàng quang và niệu đạo
  • các tế bào máu trắng gọi là bạch cầu trung tính, có thể tìm và diệt vi khuẩn

Nhưng cơ chế tự nhiên này có thể bị ảnh hưởng do tác động bên ngoài, ví dụ như:

  • tổn thương da, chẳng hạn như trầy xước trên cánh tay hoặc một vết thương từ phẫu thuật
  • ống thông bàng quang có thể trở thành con đường để vi khuẩn xâm nhập vào bàng quang và gây nhiễm trùng
  • thuốc chống axit cho ợ nóng có thể trung hòa axit dạ dày giết chết vi khuẩn

Một số phương pháp điều trị ung thư cũng có thể làm suy yếu các cơ chế bảo vệ này. Hóa trị tạm thời làm giảm số lượng bạch cầu trung tính trong cơ thể, khiến bạn khó chống nhiễm trùng hơn. Xạ trị phổi có thể làm tổn hại đến lông và chất nhầy tạo ra các tế bào giúp loại bỏ vi khuẩn.

Bạch cầu trung tính

Những tế bào máu trắng này rất quan trọng để chống nhiễm trùng. Chúng có thể:

  • di chuyển đến các vùng nhiễm trùng trong cơ thể
  • dính vào vi khuẩn xâm nhập, vi rút hoặc nấm
  • nuốt chửng vi khuẩn, vi rút hoặc nấm và giết chúng bằng hóa chất

Số lượng bạch cầu trung tính bình thường của bạn là từ 2.000 đến 7.500 mỗi mét khối máu. Khi bạn không có đủ bạch cầu trung tính trong máu của bạn, các bác sĩ có thể chẩn đoán rằng bạn bị suy giảm bạch cầu trung tính (neutropaenic).

Hóa trị, thuốc trị ung thư được nhắm mục tiêu và một số phương pháp điều trị bằng xạ trị có thể làm giảm số lượng bạch cầu trung tính. Vì vậy, bạn có thể có nhiều khả năng bị nhiễm trùng do vi khuẩn hoặc nấm sau khi điều trị.

Bạn cần phải biết những điều quan trọng sau đây khi điều trị ung thư:

  • nhiễm trùng có thể trở nên nghiêm trọng rất nhanh ở những người có số lượng bạch cầu trung tính thấp
  • thuốc kháng sinh có thể cứu sống bạn, vì vậy nếu bạn bị sốt hoặc cảm thấy đau, hãy gọi điện thoại cho trung tâm điều trị ung thư hoặc đến bệnh viện ngay lập tức
  • bạn có thể cần phải dùng thuốc kháng sinh để giúp ngăn ngừa nhiễm trùng nặng nếu số lượng máu của bạn thấp
  • khả năng bạn bị lây bệnh từ người khác thấp hơn nhiều với so với bệnh từ các yếu tố bên ngoài. Điều này có nghĩa là bạn không cần phải tránh tiếp xúc với gia đình, bạn bè hoặc trẻ em sau khi điều trị.

Bạn có thể hỏi bác sĩ hoặc y tá về những biện pháp phòng ngừa để chống nhiễm trùng.

Miễn dịch nhân tạo

Đây là sự bảo vệ mà cơ thể học được sau khi gặp một số bệnh nhất định. Cơ thể học cách nhận biết từng loại vi khuẩn, nấm hoặc vi rút khác nhau mà nó gặp lần đầu tiên. Vì vậy, khi một căn bệnh xâm nhập cơ thể lần thứ 2, hệ thống miễn dịch đã sẵn sàng và có thể chống lại nó dễ dàng hơn. Đây là lý do tại sao bạn thường chỉ mắc một số bệnh truyền nhiễm, chẳng hạn như bệnh sởi hoặc thủy đậu một lần trong đời.

Tiêm chủng hoạt động bằng cách sử dụng loại miễn dịch này. Thuốc vaccine có chứa một lượng nhỏ protein từ một căn bệnh. Lượng protein này không có hại, nhưng nó cho phép hệ thống miễn dịch nhận ra bệnh nếu gặp lại nó. Phản ứng miễn dịch sau đó có thể ngăn chặn việc bạn mắc bệnh.

Một số vắc-xin sử dụng một lượng nhỏ vi khuẩn hoặc virus sống. Đây là những loại vi khuẩn sống yếu ớt. Có nghĩa là các nhà khoa học đã thay đổi virus hoặc vi khuẩn để nó kích thích hệ thống miễn dịch tạo ra kháng thể. Vì vậy vi khuẩn sống này sẽ không gây nhiễm trùng.

Các loại vắc-xin khác sử dụng vi khuẩn hoặc vi rút đã chết hoặc một phần protein được sản xuất bởi vi khuẩn và vi-rút.

Tế bào T và tế bào B

Lymphocytes là một loại tế bào bạch cầu tham gia vào đáp ứng miễn dịch mắc phải. Có 2 loại tế bào lympho chính:

Tế bào B
Tế bào T

Tủy xương tạo ra tất cả các tế bào máu, bao gồm cả B và T lymphocytes. Giống như các tế bào máu khác, chúng phải trưởng thành hoàn toàn trước khi có thể giúp đáp ứng miễn dịch.

Các tế bào B trưởng thành trong tủy xương. Nhưng tế bào T trưởng thành ở tuyến ức. Khi chúng hoàn toàn trưởng thành, các tế bào B và T sẽ di chuyển đến các lách và hạch bạch huyết để sẵn sàng chống nhiễm trùng.

Bạn có thể đọc về tuyến ức, lách và hạch bạch huyết tại phần 2: hệ bạch huyết và bệnh ung thư:

Ảnh Hưởng Của Ung Thư Tới Cơ Thể – Phần 2: Hệ Bạch Huyết Và Bệnh Ung Thư

Chức năng của tế bào B

Các tế bào B phản ứng chống lại vi khuẩn xâm nhập hoặc virus bằng cách tạo ra các protein được gọi là kháng thể. Kháng thể được tạo ra khác nhau đối với từng loại mầm bệnh khác nhau (bug). Kháng thể bám trên bề mặt của vi khuẩn xâm nhập hoặc virus. Kẻ xâm lược sau đó được đánh dấu bằng kháng thể để cơ thể biết rằng nó nguy hiểm và cần phải bị tiêu diệt. Kháng thể cũng có thể phát hiện và tiêu diệt các tế bào bị tổn thương.

Các tế bào B là một phần của bộ nhớ hệ miễn dịch. Lần tiếp theo vi trùng xâm nhập, các tế bào B tạo ra kháng thể thích hợp giành cho vi trùng đó. Điều này giúp quá trình miễn dịch xảy ra nhanh chóng.

Chức năng của kháng thể

Kháng thể có 2 vùng. Một vùng vào các protein ở bên ngoài của tế bào máu trắng. Vùng dính vào mầm bệnh hoặc tế bào bị hư hỏng và giúp tiêu diệt chúng. Vùng của kháng thể dính vào tế bào máu trắng luôn giống nhau. Các nhà khoa học gọi đây là vùng hằng định.

Vùng còn lại của kháng thể nhận biết vi trùng và các tế bào bị tổn thương khác nhau, tùy thuộc vào tế bào cần nhận biết. Vì vậy, nó được gọi là vùng biến đổi. Mỗi tế bào B tạo ra các kháng thể với vùng biến đổi khác với các tế bào B khác.

kháng thể trong hệ miễn dịch và ung thư

Tế bào ung thư không phải là tế bào bình thường. Vì vậy, một số kháng thể có vùng biến đổi nhận ra tế bào ung thư và bám vào chúng.

Chức năng của tế bào T

Có nhiều loại tế bào T khác nhau được gọi là:

  • Tế bào T hỗ trợ
  • Tế bào T tiêu diệt
  • Các tế bào T trợ giúp các tế bào B tạo ra các kháng thể và giúp các tế bào tiêu diệt phát triển.

Các tế bào T tiêu diệt các tế bào đã bị xâm nhập bởi virus hoặc vi khuẩn. Điều này ngăn cản vi trùng sinh sản trong tế bào và lây nhiễm sang các tế bào khác.

Điều trị ung thư sử dụng hệ miễn dịch

Một số phương pháp điều trị ung thư sử dụng hệ thống miễn dịch để điều trị ung thư.

Liệu pháp miễn dịch (Immunotherapy)

Liệu pháp miễn dịch có thể điều trị cho một số loại ung thư, ví dụ như u ác tính đã lan rộng. Nó sử dụng cơ thể tự nhiên, hoặc các loại thuốc làm từ cơ thể để điều trị ung thư.

Phương pháp này rất hữu ích trong điều trị ung thư vì các tế bào ung thư khác với các tế bào bình thường. Và hệ miễn dịch có thể nhận biết và tiêu diệt các tế bào bất thường.

Trong phòng thí nghiệm, các nhà khoa học có thể sản xuất các hóa chất phản ứng miễn dịch khác nhau. Vì vậy, họ có thể thực hiện các loại liệu pháp miễn dịch khác nhau như:

  • kháng thể đơn dòng (MABs), nhận biết và tấn công một số protein trên bề mặt tế bào ung thư
  • vắc-xin để giúp hệ miễn dịch nhận biết và tấn công ung thư
  • cytokine giúp tăng cường hệ miễn dịch
  • chuyển tế bào nuôi cấy để thay đổi gen trong tế bào máu trắng

Xem tiếp phần 4: Hệ nội tiết và bệnh ung thư

Nguồn: Cancer Research UK