Phát Hiện Mối Liên Hệ Giữa Đột Biến Gen Thuộc Hội Chứng Lynch Và Ung Thư Vú Di Truyền

Các nhà nghiên cứ tại Columbia, New York (Mỹ) đã phát hiện mối liên hệ giữa hai gen đột biến gây ra hội chứng Lynch và ung thư vú. Phụ nữ mang hai gen MSH6 và PMS2 tăng gấp đôi nguy cơ phát triển ung thư vú khi đến tuổi 60.

Hội chứng Lynch, kẻ giết người trong bóng tối

Hội chứng Lynch thường bắt nguồn từ các đột biến ở các gen MLH1, MSH2, MSH6, EPCAM và PMS2. Hội chứng Lynch là nguyên nhân mang tính di truyền phổ biến nhất của ung thư đại trực tràng, chiếm tới khoảng 3% của những ca mới được chuẩn đoán. Cứ 1 trong 440 người Mỹ sẽ mang 1 gen gây hội chứng Lynch. Đây là hội chứng nguy hiểm, còn được dân gian gọi là “hội chứng giang hồ”, làm tăng nguy cơ ung thư đại tràng và rất nhiều loại ung thư khác như ung thư bao tử và ung thư nội mạc tử cung, cụ thể:

  • Ung thư đại trực tràng: tăng 40%- 80%
  • Ung thư dạ dày: tăng 11%-19%
  • Ung thư ruột mật (gan/ống mật): tăng 2%- 7%
  • Ung thư tiết niệu: tăng 4% – 5%
  • Ung thư ruột non (ruột): 1% – 4%
  • U não hoặc khối u ở hệ thần kinh trung ương: 1%-3%
  • Nguy cơ ung thư cho phụ nữ bị hội chứng Lynch
  • Ung thư nội mạc tử cung: 20% – 60%
  • Ung thư buồng trứng: 9% – 12%

Hội chứng Lynch có bản chất di truyền nổi trội về nhiễm sắc thể trong gia đình, có nghĩa là nếu một thành viên trong gia đình mang gen đột biến này thì thế hệ đời sau có 50% nguy cơ cũng thừa hưởng gen gây bệnh. Nếu tiền sử sức khỏe bản thân và gia đình có những đặc điểm như: khởi phát sớm ung thư đại trực tràng sớm từ tuổi 50 trở xuống, có thành viên ruột thịt (anh, chị em ruột, cha mẹ và con cái) ở nhiều thế hệ mắc các bệnh ung thư liên quan như ung thư ruột kết, tử cung, buồng trứng và ung thư dạ dày, thì nên cân nhắc tiến hành xét nghiệm di truyền cho ung thư đại trực tràng.

Hội chứng Lynch có bản chất di truyền nổi trội về nhiễm sắc thể trong gia đình

Hội chứng Lynch có bản chất di truyền nổi trội về nhiễm sắc thể trong gia đình

Trước đây đã có nghiên cứu về mối liên hệ giữa các gen đột biến gây hội chứng Lynch và ung thư vú. Các nhà nghiên cứu giả thiết rằng các gen đột biến gây hội chứng Lynch cũng chính là nguyên nhân dẫn đến ung thư vú. Tuy nhiên, các nghiên cứu trước đây cho thấy kết quả không đồng nhất, một vài nghiên cứu cho thấy mối liên hệ giữa các gen này và ung thư vú, một số khác không cho thấy kết quả đáng kể nào.

“Những bệnh nhân mắc hội chứng Lynch không nghĩ rằng bản thân cũng đang có nguy cơ mắc ung thư vú”, giáo sư Wendy Chung thuộc đại học Columbia cho biết. “Với việc xét nghiệm gen di truyền ngày càng phổ biến đối với những bệnh nhân có tiền sử gia đình từng mắc ung thư, chúng tôi đã có cơ hội tiếp cận đến những số liệu cần thiết cho cuộc nghiên cứu này, cụ thể hơn là số ca sàng lọc ung thư vú ở phụ nữ mang hai gen liên quan đến nguy cơ ung thư vú.”

Loại ung thư Nguy cơ mắc ung thư của dân số chung

MLH1 và MSH2

MSH6

PMS2

Nguy cơ của người mang gen MLH1 và MSH2 Độ tuổi trung bình Nguy cơ của người mang gen   Độ tuổi trung bình Nguy cơ của người mang gen PMS2 Độ tuổi trung bình
Đại trực tràng 5.5% 40%-80% 44-61 10-22% 54 15-20% 61-66
Nội mạc tử cung 2.7% 25%-60% 48-62 16-26% 55 15% 49
Dạ dày <1% 1%-13% 56 < 3% 63 6% 70-78
Buồng trứng 1.6% 4%-24% 42.5 1-11% 46 6% 42
Ruột mật (gan/ống mật) <1% 1.4%-4%% 50-57 Không có dữ liệu Không có dữ liệu Không có dữ liệu
Tiết niệu <1% 1%-4% 54-60 <1% 65 Không có dữ liệu
Ruột non <1% 3%-6% 47-49 Không có dữ liệu 54 59
Não hoặc khối u ở hệ thần kinh trung ương <1% 1%-3% ~50 Không có dữ liệu Không có dữ liệu 45
Tuyến bã nhờn ở da <1% 1%-9% Không có dữ liệu Không có dữ liệu Không có dữ liệu Không có dữ liệu Không có dữ liệu

Nguy cơ tổng của ung thư ruột, mật, gan, dạ dày, ung thư buồng trứng,ruột non, đường tiết niệu, và não là 6% ở tuổi 70.

Hội chứng Lynch có bản chất di truyền nổi trội về nhiễm sắc thể trong gia đình, có nghĩa là nếu một thành viên trong gia đình mang gen đột biến này thì thế hệ đời sau có 50% nguy cơ cũng thừa hưởng gen gây bệnh. Nếu tiền sử sức khỏe bản thân và gia đình có những đặc điểm như: khởi phát sớm ung thư đại trực tràng sớm từ tuổi 50 trở xuống, có thành viên ruột thịt (anh, chị em ruột, cha mẹ và con cái) ở nhiều thế hệ mắc các bệnh ung thư liên quan như ung thư ruột kết, tử cung, buồng trứng và ung thư dạ dày, thì nên cân nhắc tiến hành xét nghiệm di truyền cho ung thư đại trực tràng.

Hội chứng Lynch có bản chất di truyền nổi trội về nhiễm sắc thể trong gia đình

Hội chứng Lynch có bản chất di truyền nổi trội về nhiễm sắc thể trong gia đình

Trước đây đã có nghiên cứu về mối liên hệ giữa các gen đột biến gây hội chứng Lynch và ung thư vú. Các nhà nghiên cứu giả thiết rằng các gen đột biến gây hội chứng Lynch cũng chính là nguyên nhân dẫn đến ung thư vú. Tuy nhiên, các nghiên cứu trước đây cho thấy kết quả không đồng nhất, một vài nghiên cứu cho thấy mối liên hệ giữa các gen này và ung thư vú, một số khác không cho thấy kết quả đáng kể nào.

“Những bệnh nhân mắc hội chứng Lynch không nghĩ rằng bản thân cũng đang có nguy cơ mắc ung thư vú”, giáo sư Wendy Chung thuộc đại học Columbia cho biết. “Với việc xét nghiệm gen di truyền ngày càng phổ biến đối với những bệnh nhân có tiền sử gia đình từng mắc ung thư, chúng tôi đã có cơ hội tiếp cận đến những số liệu cần thiết cho cuộc nghiên cứu này, cụ thể hơn là số ca sàng lọc ung thư vú ở phụ nữ mang hai gen liên quan đến nguy cơ ung thư vú.”

Tầm soát ung thư vú di truyền không chỉ còn tập trung ở gen BRCA 1 và BRCA 2

Ung thư vú là loại ung thư phổ biến nhất ở phụ nữ và có đến 25% các trường hợp có sự liên quan đến yếu tố di truyền. Hai gen thường được gắn với hội chứng ung thư vú di truyền bao gồm gen BRCA1 và BRCA2 là các gen ức chế khối u, chúng có nhiệm vụ mã hóa các protein để kiểm soát sự phát triển của tế bào. Khi đột biến ở các gen xảy ra, gen sẽ mất đi chức năng của mình và  dẫn đến sự phát triển không kiểm soát của tế bào. Dần dần quá trình phân chia liên tục với tầm suất cao ngay cả khi không cần thiết gây ra bởi sự sai lệch trong gen sẽ dẫn đến ung thư vú. Các đột biến ở một trong hai gen ung thư vú BRCA1 hoặc BRCA2 làm tăng đáng kể nguy cơ ung thư vú và ung thư buồng trứng khi so sánh với các nguy cơ ung thư của một người phụ nữ không mang hai đột biến gen này (Có đến 50% các hội chứng ung thư vú và buồng trứng di truyền là do các đột biến ở các gen BRCA1 và BRCA2). Quan trọng hơn cả là ung thư vú và buồng chứng là một hội chứng có tính di truyền cao. Gia đình có các thành viên mắc phải ung thư vú khi còn trẻ (dưới 45 tuổi) và một số biểu hiện khác thường được khuyên cân nhắc các xét nghiệm ung thư di truyền để tầm soát rủi ro cho bản thân.

Ung thư vú và buồng chứng là một hội chứng có tính di truyền cao

Ung thư vú và buồng chứng là một hội chứng có tính di truyền cao

Trước đây, BRCA 1 và 2 là hai gen phổ biến nhất trong tầm soát ung thư vú di truyền. Sàng lọc các gen đột biến có liên quan đến hội chứng Lynch thường chỉ được chỉ định khi gia đình có người thân từng mắc ung thư đại trực tràng và ung thư đường tiết niệu, chứ ít được chú trọng trong việc tầm soát ung thư vú di truyền. Tuy nhiên, cuộc nghiên cứu này đã cho thấy gen MSH6 và PMS2 nên được liệt vào bảng gen được sàng lọc ung thư vú di truyền chứ không chỉ ung thư đại trực tràng.

Nhóm các nhà nghiên cứu phân tích cơ sở dữ liệu bao gồm hơn 50,000 phụ nữ từng trải qua một hay nhiều các xét nghiệm đa gen di truyền trong khoảng thời gian từ năm 2013 đến năm 2015. Trong số nhóm này, 423 phụ nữ có mang 1 trong 4 gen đột biến gây nên hội chứng Lynch, bao gồm gen: MLH1, MSH2, MSH6, và PMS2. Ngoài ra, nghiên cứu cho thấy rang phụ nữ mang hai gen đặc trưng của hội chứng Lynch là gen MSH6 và gen PMS2 có nguy cơ sẽ mắc ung thư vú cao gấp 2 lần so với những người khác. Kết quả nghiên cứu cho hấy có khoảng từ 31 đến 38% số phụ nữ mang hai gen MSH6 và PMS2 sẽ dẫn đến ung thư vú trong khi tỷ lệ này ở nhóm dân số chung chỉ rơi vào khoảng 15%.

Mối liên hệ giữa gen đột biến thuộc hội chứng Lynch, ung thư vú di truyền và một số loại ung thư khác

Mối liên hệ giữa gen đột biến thuộc hội chứng Lynch, ung thư vú di truyền và một số loại ung thư khác

Việc phát hiện mối liên hệ của hai gen mới có nguy cơ gây ung thư vú này đóng vai trò quan trọng trong quá trình sàng lọc để tầm soát ung thưu của chị em phụ nữ. Đối tượng phát hiện bản thân mang gen MSH6 hoặc PMS2 nên tầm soát thêm ung thư vú chứ không chỉ ung thư đạ trực tràng. Sàng lọc thêm hai gen này có thể giúp gia đình có thêm thông tinh thiết yếu để phòng ngừa ngừa ung thư tốt.

Nguồn: MSH6 and PMS2 germ-line pathogenic variants implicated in Lynch syndrome are associated with breast cancer , Lynch Syndrome Screening Netwwork